http://103.104.117.215/index.php/jed/issue/feedTạp chí Kinh tế và Phát triển2026-05-22T11:16:37+07:00Tạp chí Kinh tế và Phát triểntoasoan@ktpt.edu.vnOpen Journal Systems<div class="news-description">Tạp chí Kinh tế và Phát triển là tạp chí học thuật về khoa học kinh tế của trường Đại học Kinh tế Quốc dân với sứ mệnh là công bố các công trình nghiên cứu khoa học nguyên tác trong lĩnh vực kinh tế và phát triển. Tạp chí Kinh tế và Phát triển được xuất bản từ năm 1994 với mã số ISSN 1859-0012, phát hành định kỳ hàng tháng.</div> <div class="news-description"><br />Mục đích hoạt động của Tạp chí Kinh tế và Phát triển là hỗ trợ, thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu khoa học, giáo dục và đào tạo thông qua 5 chức năng cơ bản: (i) Nghiên cứu phục vụ hoạch định phát triển kinh tế xã hội; (ii) Xác lập uy tín khoa học và nâng cao năng lực nghiên cứu của các nhà khoa học; (iii) Kênh giao tiếp học thuật của cộng đồng nghiên cứu khoa học; (iv) Kiểm định chất lượng nghiên cứu khoa học thông qua quy trình phản biện; (v) Cơ sở dữ liệu tham khảo/trích dẫn cho các nghiên cứu tương lai.</div> <div class="news-description"><br />Phạm vi nghiên cứu của Tạp chí Kinh tế và Phát triển bao gồm các vấn đề lý thuyết và thực tiễn trong lĩnh vực kinh tế và phát triển của Việt Nam và thế giới, bao gồm kinh tế, kinh doanh, quản lý và những vấn đề phát triển bền vững.</div> <div class="news-description"><br />Để đảm bảo chuẩn mực và chất lượng khoa học, tất cả các bài viết gửi đăng Tạp chí Kinh tế và Phát triển được phản biện kín bởi các nhà khoa học có uy tín, các chuyên gia kinh tế đầu ngành ở trong và ngoài nước.</div> <div class="news-description"> <p>Các tác giả quan tâm gửi bài vui lòng đọc kỹ các <a title="Quy định gửi bài" href="https://ktpt.edu.vn/quy-dinh-huong-dan-gui-bai/quy-dinh-huong-dan-gui-bai.372883.aspx" target="_blank" rel="noopener">Quy định gửi bài. </a>Tác giả cần phải <a title="đăng ký tài khoản" href="https://js.ktpt.edu.vn/index.php/jed/index" target="_blank" rel="noopener">đăng ký tài khoản</a> trước khi gửi bài qua hệ thống trực tuyến. Tác giả có thể tham khảo video hướng dẫn chi tiết cách đăng ký tài khoản<a title="video hướng dẫn đăng ký tài khoản" href="https://youtu.be/XiV-AH-ILKA" target="_blank" rel="noopener"> tại đây</a>, cũng như <a href="https://www.youtube.com/watch?v=4qPkWQ6CHQc" target="_blank" rel="noopener">video hướng dẫn quy trình gửi bản thảo</a>. Nếu đã đăng ký tài khoản, tác giả chỉ cần <a title="đăng nhập" href="https://js.ktpt.edu.vn/index.php/jed/login" target="_blank" rel="noopener">đăng nhập</a> và bắt đầu gửi bản thảo với quy trình 5 bước.</p> <p>Dữ liệu các bài báo xuất bản trước năm 2021 được lưu trữ tại: <a href="https://ktpt.edu.vn" target="_blank" rel="noopener">https://ktpt.edu.vn</a></p> </div>http://103.104.117.215/index.php/jed/article/view/2940Logic thể chế cạnh tranh trong phát triển kinh tế số: Nghiên cứu định tính đa bên liên quan tại Việt Nam2026-04-14T11:31:17+07:00Thị Hải Hà Đỗhadh@neu.edu.vnDũng Ngô Quốcquocdungktpt@gmail.com<p class="b">Nghiên cứu xem xét cách các logic thể chế cạnh tranh định hình phát triển kinh tế số tại Việt Nam, một nền kinh tế chuyển đổi có cấu trúc thể chế đặc thù. Dựa trên 32 cuộc phỏng vấn sâu bán cấu trúc với bốn nhóm bên liên quan, gồm nhà hoạch định chính sách trung ương, lãnh đạo chính quyền địa phương, lãnh đạo doanh nghiệp và chuyên gia học thuật, nghiên cứu sử dụng phân tích chủ đề phản tư kết hợp mã hóa suy diễn để nhận diện các logic thể chế và cơ chế tương tác. Kết quả cho thấy bốn logic nổi bật là logic nhà nước, logic thị trường, logic học thuật và logic phát triển. Trong đó, logic phát triển xuất hiện như một logic xuyên nhóm, gắn với bắt kịp công nghệ, phát triển bao trùm và định hướng dài hạn. Đồng thời, nghiên cứu chỉ ra rằng mức độ liên quan đến an ninh quốc gia và lợi ích kinh tế trực tiếp là hai yếu tố bối cảnh định hình tính trung tâm và tính tương thích giữa các logic. Từ đó, bài viết mở rộng góc nhìn logic thể chế vào lĩnh vực kinh tế số trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi và gợi ý cách thiết kế cơ chế điều phối phù hợp hơn.</p>2026-04-29T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Kinh tế và Phát triểnhttp://103.104.117.215/index.php/jed/article/view/2969Hành chính công ở Việt Nam: Cải cách và con đường phía trước2026-03-10T09:33:28+07:00Hương Thảo Phạm phamhuongthao@neu.edu.vnNam Nguyễnnamnh@thanhhoa.gov.vnAnh Mai Ngocmaingocanh@neu.edu.vn<p class="b"><span lang="VI">Nghiên cứu này sử dụng kết hợp phương pháp phân tích lịch sử và phân tích định tính để phân tích quá trình cải cách hành chính công ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, cải cách hành chính công ở Việt Nam đã đem lại những điểm tích cực theo đánh giá từ phía cơ quan nhà nước, người dân và doanh nghiệp. Bên cạnh những thành tựu đạt được, nền hành chính công Việt Nam hiện nay đang đối mặt với một số bất cập từ thể chế hành chính hiện hành, chế độ công vụ và mức độ ứng dụng công nghệ số giữa các địa phương còn chênh lệch. Một số hàm ý chính sách về hoàn thiện hành chính công ở Việt Nam trong những năm tới được trình bày trong phần cuối của bài viết này.</span></p>2026-04-29T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Kinh tế và Phát triểnhttp://103.104.117.215/index.php/jed/article/view/2921Tác động của năng lực dữ liệu đến hiệu suất công việc và hành vi ủng hộ chuyển đổi số: Nghiên cứu trường hợp khu vực công2026-03-30T10:02:51+07:00Thu Lê Thi Hoàithulh@neu.edu.vnThúy Nguyễn Thị Lệthuykhoahocquanly@neu.edu.vn<p><em>Nghiên cứu này xem xét tác động của năng lực dữ liệu, thông qua năm khía cạnh khác nhau, đến hiệu suất công việc và hành vi ủng hộ chuyển đổi số của công chức tại Việt Nam. Dữ liệu từ 216 công chức làm việc tại các cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn Hà Nội, được phân tích bằng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM. Kết quả chính cho thấy trong bối cảnh chuyển đổi số dựa vào dữ liệu, năng lực dữ liệu của công chức có ảnh hưởng tới hiệu suất công việc và hành vi ủng hộ chuyển đổi số. Khía cạnh khả năng nhận thức cơ bản, phân tích, trực quan hóa và ra quyết định dựa trên dữ liệu có tác động ý nghĩa đối với hành vi ủng hộ chuyển đổi số. Trong khi đó, năng lực tổ chức và quản lý, trực quan hóa dữ liệu có tác động tích cực đến hiệu suất công việc. Những phát hiện này góp phần xác thực về vai trò của năng lực dữ liệu của cá nhân, dưới góc độ là một nhân tố đa chiều, ủng hộ chuyển đổi số và tăng hiệu suất công việc. Đồng thời cung cấp hàm ý quản trị trong việc tăng cường năng lực dữ liệu theo các thành phần cụ thể nhằm cải thiện hiệu suất của công chức và thúc đẩy chuyển đổi số.</em></p>2026-04-29T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Kinh tế và Phát triểnhttp://103.104.117.215/index.php/jed/article/view/2968Tác động của dữ liệu chính phủ mở đến kiểm soát tham nhũng: bằng chứng thực nghiệm từ các quốc gia trên thế giới2026-04-20T09:07:32+07:00Minh Nguyễn Nguyệtminhnn@neu.edu.vn<p><em>Nghiên cứu này phân tích tác động của dữ liệu chính phủ mở (OGD) đến kiểm soát tham nhũng dựa trên bộ dữ liệu bảng gồm 115 quốc gia giai đoạn 2013–2016. Sử dụng mô hình hiệu ứng cố định theo quốc gia để đảm bảo độ tin cậy của ước lượng, nghiên cứu này kiểm định liệu OGD có góp phần nâng cao kiểm soát tham nhũng và liệu tác động này có khác biệt giữa các quốc gia hay không. Kết quả cho thấy tác động của OGD mang tính điều kiện. Khi xét yếu tố thu nhập, OGD có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đến kiểm soát tham nhũng ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình, trong khi tác động này suy giảm khi mức thu nhập tăng. Kiểm định tính vững với chỉ số minh bạch dữ liệu thay thế cho OGD cho kết quả tương đồng, củng cố tính ổn định của phát hiện chính. Nghiên cứu đóng góp bằng chứng thực nghiệm quy mô toàn cầu về vai trò của dữ liệu mở trong việc cải thiện chất lượng quản trị và hàm ý rằng hiệu quả của cải cách minh bạch phụ thuộc đáng kể vào điều kiện phát triển kinh tế của từng quốc gia.</em></p>2026-04-29T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Kinh tế và Phát triểnhttp://103.104.117.215/index.php/jed/article/view/2907Tác động của chuyển đổi số lên phát thải CO₂: Nghiên cứu thực nghiệm tại Châu Á và hàm ý chính sách cho Việt Nam2026-05-08T09:03:04+07:00Yến Mạc Thị Hảiyenmh@neu.edu.vn<p class="b">Phát thải CO₂ tại châu Á gia tăng nhanh trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế, công nghiệp hóa và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ. Tuy nhiên, tác động môi trường của chuyển đổi số vẫn còn nhiều tranh luận trong thực nghiệm. Nghiên cứu này phân tích tác động của tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi số và tiêu thụ năng lượng đến phát thải CO₂ tại 35 quốc gia châu Á giai đoạn 2012-2023 trong khuôn khổ Đường cong Kuznets Môi trường (EKC) mở rộng. Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng tác động cố định kết hợp sai số chuẩn Driscoll-Kraay. Kết quả cho thấy tồn tại mối quan hệ phi tuyến giữa tăng trưởng kinh tế và phát thải CO₂, đồng thời khẳng định vai trò chi phối của tiêu thụ năng lượng đối với áp lực phát thải. Các khía cạnh khác nhau của chuyển đổi số tạo ra tác động môi trường không đồng nhất. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hàm ý chính sách về chuyển đổi số xanh và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng tại Việt Nam.</p>2026-04-29T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Kinh tế và Phát triểnhttp://103.104.117.215/index.php/jed/article/view/2903Tác động của mức độ sẵn sàng cho nền kinh tế số đến năng suất lao động tại Việt Nam giai đoạn 2002-20232026-02-03T01:44:35+07:00Bao Mai Anhbaoma@neu.edu.vn<p><em>Nghiên cứu phân tích tác động của mức độ sẵn sàng cho nền kinh tế số đến năng suất lao động tại Việt Nam trong giai đoạn 2002–2023. Mức độ sẵn sàng cho nền kinh tế số được đo lường bằng Chỉ số Sẵn sàng Mạng lưới (Network Readiness Index – NRI), trong khi năng suất lao động được đo bằng giá trị gia tăng thực bình quân trên mỗi lao động theo giá cố định. Nghiên cứu sử dụng phương pháp ARDL trên dữ liệu chuỗi thời gian nhằm xem xét tác động động và phân biệt giữa các độ trễ thời gian. Kết quả cho thấy không tồn tại mối quan hệ đồng liên kết giữa mức độ sẵn sàng cho nền kinh tế số và năng suất lao động trong dài hạn, ổn định mà có mối quan hệ trong trung hạn (độ trễ 2–3 năm), do đó việc thiết kế và đánh giá chính sách cần tính đến độ trễ chuyển hóa này.</em></p>2026-04-29T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Kinh tế và Phát triểnhttp://103.104.117.215/index.php/jed/article/view/2966Tác động của chính phủ điện tử đến phát triển bền vững: Vai trò điều tiết của mức độ bao trùm số2026-03-05T14:49:01+07:00Hoàng Đinh Viếthoangdv@neu.edu.vn<p><em>Nghiên cứu này phân tích tác động của chính phủ điện tử đến phát triển bền vững và kiểm định vai trò điều tiết của bao trùm số trên dữ liệu bảng gồm 153 quốc gia giai đoạn 2000–2024. Sử dụng mô hình hiệu ứng cố định, kết quả cho thấy chính phủ điện tử có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến phát triển bền vững. Tuy nhiên, lợi ích cận biên của chính phủ điện tử giảm dần khi mức độ bao trùm số tăng cao. Điều này hàm ý rằng tác động của chuyển đổi số khu vực công mạnh hơn ở các quốc gia có mức độ bao trùm số thấp và suy giảm tại các quốc gia đã đạt mức bao phủ số cao. Nghiên cứu đóng góp bằng chứng thực nghiệm đa quốc gia về cơ chế điều tiết của bao trùm số, đồng thời gợi ý chiến lược chính sách phân tầng theo mức độ phát triển số nhằm tối ưu hóa đóng góp của chính phủ điện tử đối với phát triển bền vững.</em></p>2026-04-29T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Kinh tế và Phát triểnhttp://103.104.117.215/index.php/jed/article/view/3004Sự phát triển của các chính sách phối hợp trong thu hút FDI của Trung Quốc2026-03-22T10:38:44+07:00Hiển Lê Quanghienlq.1810@gmail.com<p><em>Nghiên cứu này đi sâu phân tích sự phát triển của các chính sách phối hợp nhằm làm rõ sự chuyển dịch chiến lược trong thu hút FDI của Trung Quốc (1979 - 2005). Bằng cách sử dụng phổ các loại hình hoạch định chính sách của Howlett & Mukherjee (2014), nghiên cứu xây dựng khung phân tích sự phát triển của tổ hợp chính sách (policy mix) và đánh giá sự phát triển của các chính sách phối hợp trong thu hút FDI của Trung Quốc. Kết quả cho thấy, thành công của chính sách thu hút FDI của Trung Quốc không chỉ đến từ các chính sách cụ thể mà còn đến từ năng lực liên tục nhận diện sự lệch hướng, lựa chọn đúng cơ chế điều chỉnh, và duy trì sự phối hợp ngang giữa bốn trụ cột qua từng giai đoạn phát triển.</em></p>2026-04-29T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Kinh tế và Phát triểnhttp://103.104.117.215/index.php/jed/article/view/2891Tác động của quản trị công và chuyển đổi số đến hiệu quả doanh nghiệp Việt Nam2026-02-09T08:58:15+07:00Linh Dương Thùylinhthuy@neu.edu.vn<p><em>Nghiên cứu vận dụng khung lý thuyết kinh tế học thể chế và lý thuyết nguồn lực để kiểm định các yếu tố tác động đến hiệu quả doanh nghiệp Việt Nam thông qua năng suất lao động. Dựa trên phân tích hồi quy từ dữ liệu khảo sát doanh nghiệp của Ngân hàng Thế giới, bài viết cung cấp ba bằng chứng thực nghiệm quan trọng. Thứ nhất, hạ tầng kỹ thuật số đóng vai trò thiết yếu đối với năng suất tương đương với nguồn cung điện năng, đặc biệt là nhóm ngành dịch vụ. Thứ hai, kết quả bác bỏ giả thuyết “bôi trơn”, khẳng định chi phí phi chính thức là lực cản ma sát làm xói mòn hiệu quả phân bổ nguồn lực. Thứ ba, chuyển đổi số tạo tác động tích cực kép: số hóa nội tại giúp cải thiện năng suất, trong khi Chính phủ số đóng vai trò là cơ chế minh bạch hóa. Từ những phát hiện này, nghiên cứu đề xuất các hàm ý chính sách tập trung vào nâng cấp hạ tầng số và đẩy mạnh ứng dụng Chính phủ số trong quản lý nhà nước.</em></p>2026-04-29T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Kinh tế và Phát triểnhttp://103.104.117.215/index.php/jed/article/view/2923Ảnh hưởng của kiến thức về trí tuệ nhân tạo và tài chính số đến hành vi áp dụng công nghệ tài chính: Hướng tới tài chính toàn diện trong doanh nghiệp tại Việt Nam2026-02-12T15:48:14+07:00Tuấn Vũ Trí tuanvt@neu.edu.vn<p><em>Nghiên cứu đánh giá tác động của kiến thức về trí tuệ nhân tạo (AI) và kiến thức tài chính số đối với hành vi áp dụng công nghệ tài chính (Fintech) hướng tới tài chính toàn diện trong doanh nghiệp Việt Nam. Khảo sát 568 doanh nghiệp và phân tích bằng mô hình PLS-SEM cho thấy kiến thức về AI có ảnh hưởng tích cực mạnh đến việc áp dụng Fintech, trong khi kiến thức tài chính số không tạo tác động đáng kể. Ngoài ra, kỳ vọng về hiệu suất và kỳ vọng về nỗ lực đều thúc đẩy hành vi áp dụng Fintech. Ảnh hưởng xã hội không phải là yếu tố quyết định trong việc chấp nhận Fintech. Kết quả chỉ ra rằng áp dụng Fintech tác động mạnh đến tài chính toàn diện của doanh nghiệp thông qua việc mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính và cải thiện quản lý nguồn vốn. Nghiên cứu đóng góp hàm ý quan trọng trong việc tăng cường năng lực AI, nâng cao đào tạo tài chính số và tối ưu hóa các giải pháp Fintech nhằm thúc đẩy tài chính toàn diện bền vững.</em></p>2026-04-29T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Kinh tế và Phát triểnhttp://103.104.117.215/index.php/jed/article/view/3151Xu hướng đổi mới sáng tạo toàn cầu và hàm ý chính sách cho hệ sinh thái đổi mới sáng tạo Việt Nam đến năm 20302026-05-22T11:16:37+07:00Vĩ Trương Quangtruongquangvi1@gmail.comAnh Nguyễn Ngọcnnanh@neu.edu.vn<p class="b">Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh gia tăng, đổi mới sáng tạo đang trở thành nhân tố then chốt quyết định năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia. Bài viết phân tích xu hướng đổi mới sáng tạo toàn cầu, đánh giá thực trạng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Việt Nam thông qua bộ chỉ số chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (Global Innovation Index - GII) giai đoạn 2020-2025 bằng cách so sánh với ba nền kinh tế châu Á tiêu biểu là Trung Quốc, Singapore và Ấn Độ. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp so sánh kết hợp phân tích dữ liệu GII theo chiều dọc giai đoạn 2020-2025, tiếp cận từ góc nhìn phân tích chính sách và quản lý công nhằm lý giải các điểm nghẽn thể chế và đề xuất hàm ý có tính ứng dụng cho hoạch định chính sách nhằm nâng cao hiệu quả chuyển đổi đầu vào - đầu ra, kiến tạo động lực tăng trưởng mới và thu hẹp khoảng cách đổi mới với các trung tâm đổi mới sáng tạo hàng đầu trong khu vực.</p>2026-04-29T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Kinh tế và Phát triểnhttp://103.104.117.215/index.php/jed/article/view/2841Động lực đổi mới trong kỷ nguyên số: Bằng chứng từ hệ thống đổi mới tại Hàn Quốc2026-03-19T09:14:23+07:00Thủy Phùng Minh Thuthuyphung@neu.edu.vn<p class="b">Nghiên cứu này phân tích các động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên số dựa trên trường hợp Hàn Quốc giai đoạn 2007-2022. Sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian và mô hình hồi quy sai phân bậc một, nghiên cứu đánh giá tác động ngắn hạn của chi tiêu R&D, nguồn nhân lực khoa học, hạ tầng số và tăng trưởng kinh tế đến số đơn đăng ký sáng chế và xuất khẩu công nghệ cao. Kết quả cho thấy tăng trưởng kinh tế có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến hoạt động đăng ký sáng chế trong ngắn hạn. Chi tiêu R&D thể hiện đặc điểm có độ trễ, trong khi nguồn nhân lực và hạ tầng số không có ý nghĩa thống kê trong ngắn hạn. Đối với xuất khẩu công nghệ cao, mô hình không giải thích được sự biến động. Các phát hiện cho thấy đổi mới là một quá trình động với sự khác biệt giữa giai đoạn tạo tri thức và thương mại hóa công nghệ. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm và gợi ý chính sách cho các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam.</p>2026-04-29T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Kinh tế và Phát triểnhttp://103.104.117.215/index.php/jed/article/view/3007Nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin ESG của doanh nghiệp Việt Nam hướng tới Net Zero 20502026-05-13T15:58:24+07:00Vân Lê Thị Anhvanhangbac@yahoo.com<p class="b"><span lang="VI">Nghiên cứu xây dựng và kiểm định mô hình hồi quy đa biến OLS nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến Chỉ số công bố thông tin ESG (ESG Disclosure Index - EDI) của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh cam kết Net Zero 2050. Dựa trên dữ liệu khảo sát 320 doanh nghiệp, kết quả cho thấy bốn nhân tố đều có tác động thuận chiều và có ý nghĩa thống kê đến EDI: Áp lực thể chế và quy định pháp lý (RPI), Năng lực nội bộ và nhận thức doanh nghiệp (OCA), Áp lực thị trường và nhà đầu tư (MPI), và Nhận thức về rủi ro khí hậu (CRA), trong đó RPI và OCA có mức tác động mạnh nhất. Nghiên cứu đề xuất các hàm ý chính sách nhằm nâng cao mức độ công bố thông tin ESG hướng tới mục tiêu Net Zero 2050.</span></p>2026-04-29T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Kinh tế và Phát triểnhttp://103.104.117.215/index.php/jed/article/view/2927Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia việc làm xanh và tiềm năng xanh của thanh niên Việt Nam: Phân tích bằng mô hình hồi quy logit đa thức2026-04-24T15:21:54+07:00Hương Lê Thị Thuthuhuong@neu.edu.vnToàn Phạm Ngọctoanpn@moha.gov.vn<div> <div> <p><em>Nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia vào việc làm xanh và việc làm tiềm năng xanh tại Việt Nam, đồng thời xem xét sự khác biệt giữa thanh niên và nhóm lao động trưởng thành. Sử dụng dữ liệu Khảo sát Lực lượng Lao động năm 2023 và mô hình logit đa thức kết hợp với xác suất dự báo, kết quả cho thấy thị trường lao động xanh phân tầng rõ rệt theo trình độ kỹ năng. Việc làm tiềm năng xanh chủ yếu tập trung ở nhóm lao động kỹ năng thấp và trung bình, trong khi việc làm xanh có xu hướng tập trung ở nhóm lao động trình độ cao. Thanh niên và phụ nữ có xác suất tham gia việc làm xanh thấp hơn so với các nhóm còn lại. Ngoài ra, tỷ lệ doanh nghiệp xanh tại địa phương có tác động tích cực hơn đối với khả năng tham gia việc làm xanh của thanh niên. Kết quả nghiên cứu hàm ý cần phát triển kỹ năng xanh và mở rộng cơ hội tiếp cận việc làm xanh theo hướng công bằng và bao trùm.</em></p> </div> </div>2026-04-29T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Kinh tế và Phát triểnhttp://103.104.117.215/index.php/jed/article/view/2819Sự hài lòng chỗ ở của người lao động thu nhập thấp: vai trò của tiện nghi, môi trường khu ở và tiếp cận dịch vụ xã hội2026-05-04T08:53:35+07:00Tú Nguyễn Anhtunarevn@gmail.com<p><em>Nghiên cứu này phân tích các yếu tố tác</em><em> động</em><em> mức hài lòng chỗ ở với dữ liệu khảo sát</em><em> về điều kiện nhà ở của</em> <em>15000</em><em> hộ gia đình tại khu vực đô thị</em><em> và khu công nghiệp</em><em> Việt Nam. </em><em>S</em><em>ử dụng mô hình hồi quy logit thứ tự tổng quát ghi</em><em> nhận tác động quan trọng của yếu tố môi trường khu ở đặc biệt là cộng đồng khu ở, xác định những ưu tiên đối với yếu tố tiện nghi, chức năng, đặc tính an toàn căn nhà, đồng thời bổ sung tác động của nhu cầu tiếp cận dịch vụ xã hội phản ánh sự thay đổi trong phong cách sống của hộ gia đình tác động đến sự hài lòng chỗ ở. Căn cứ kết quả thực nghiệm, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị chính sách cụ thể, thiết thực về quy hoạch và chính sách nhà ở đối với người lao động thu nhập thấp đô thị và khu công nghiệp.</em></p>2026-04-29T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Kinh tế và Phát triểnhttp://103.104.117.215/index.php/jed/article/view/2996Động lực nâng cấp cấu trúc công nghiệp: Vai trò của vốn con người, R&D và sự phân hóa theo ngưỡng thu nhập2026-05-06T08:36:16+07:00Phượng Ngô Kimphuongnk@neu.edu.vnNúi Nguyễn Đăngnuind@neu.edu.vn<p>Nghiên cứu đánh giá tác động của vốn con người và đầu tư R&D đến sự dịch chuyển cơ cấu sản xuất sang các ngành công nghệ cao. Sử dụng dữ liệu mảng của 75 quốc gia giai đoạn 2010–2023, bài báo ứng dụng mô hình tác động cố định với sai số chuẩn vững Driscoll-Kraay nhằm kiểm soát triệt để khuyết tật tự tương quan, phương sai thay đổi và phụ thuộc chéo. Thông qua việc tích hợp biến trễ thời gian và biến tương tác để lượng hóa cơ chế thẩm thấu tri thức và sự phân hóa năng lực hấp thụ, kết quả ước lượng chỉ ra vốn con người là động lực cốt lõi nhưng đòi hỏi độ trễ nhất định để phát huy hiệu quả. Tác động tại nhóm nước thu nhập cao mạnh gấp đôi so với nhóm đang phát triển, xác nhận sự tồn tại của bẫy kỹ năng. Sự lạm dụng tài sản vật chất tạo ra hiệu ứng lấn át nghiêm trọng. Nghiên cứu đề xuất các quốc gia đang phát triển cần xây dựng hệ sinh thái đổi mới, giáo dục dài hạn và chuyển dịch dòng vốn sang tài sản vô hình.</p>2026-04-29T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Kinh tế và Phát triểnhttp://103.104.117.215/index.php/jed/article/view/2868Tác động của các động lực du lịch đến ý định hành vi du lịch lễ hội âm nhạc: Bằng chứng từ Việt Nam2026-04-03T15:51:31+07:00Ngọc Đào Minhdaominhngoc@neu.edu.vnViệt Bùi Thị Hồngvietbh@neu.edu.vn<p><em>Trong bối cảnh kinh tế trải nghiệm ngày càng phát triển, du lịch lễ hội âm nhạc nổi lên </em><em>là </em><em>loại hình du lịch mới,</em><em> giúp </em><em>gia tăng sức hấp dẫn của điểm đến. Nghiên cứu này phân tích tác động của động lực đến ý định hành vi du lịch lễ hội âm nhạc của khách du lịch Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thu thập từ khảo sát khách du lịch tham gia các sự kiện âm nhạc hiện đại. Kết quả cho thấy động lực nghệ thuật và động lực gắn kết xã hội có ảnh hưởng mạnh nhất đến ý định hành vi du lịch lễ hội âm nhạc,trong khi các động lực khác có mức độ tác động thấp hơn hoặc không tác động. Về mặt học thuật, nghiên cứu góp phần làm rõ vai trò của các nhóm động lực trong việc hình thành ý định hành vi </em><em>ở </em><em>thị trường du lịch âm nhạc mới nổi</em><em> như Việt Nam</em><em>. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu </em><em>đề xuất các hàm ý góp phần </em><em>phát triển du lịch lễ hội âm nhạc và nâng cao sức hấp dẫn của điểm đến.</em></p>2026-04-29T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Kinh tế và Phát triểnhttp://103.104.117.215/index.php/jed/article/view/2886Mối quan hệ giữa trí tuệ nhân tạo sinh và tư duy sáng tạo của sinh viên: vai trò trung gian của động lực học tập và điều tiết của hỗ trợ giảng viên2026-03-23T09:16:20+07:00Nhung Trần Thị Kimnhungttk@neu.edu.vn<p class="b">Mặc dù trí tuệ nhân tạo sinh (Generative Artificial Intelligence - GAI) ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong giáo dục đại học, các bằng chứng thực nghiệm về tác động của GAI đến tư duy sáng tạo của sinh viên vẫn còn hạn chế. Nghiên cứu này xây dựng mô hình nhằm phân tích mối quan hệ giữa việc sử dụng GAI, hỗ trợ của giảng viên, động lực học tập và tư duy sáng tạo. Dữ liệu được thu thập từ 923 sinh viên đại học tại Việt Nam và phân tích bằng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM). Kết quả cho thấy GAI không trực tiếp đến tư duy sáng tạo mà tác động gián tiếp thông qua biến trung gian động lực học tập. Bên cạnh đó, hỗ trợ của giảng viên đóng vai trò điều tiết vừa củng cố ảnh hưởng của GAI lên động lực, vừa tăng cường mối quan hệ giữa động lực học tập và tư duy sáng tạo của sinh viên. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng GAI cần đi kèm với sự hỗ trợ phù hợp từ giảng viên nhằm nâng cao động lực học tập, từ đó thúc đẩy tư duy sáng tạo của sinh viên. Nghiên cứu cung cấp hàm ý thực tiễn cho các cơ sở giáo dục đại học trong việc thiết kế hoạt động giảng dạy và ứng dụng GAI nhằm nâng cao hiệu quả học tập trong thời kỳ kỷ nguyên số.</p>2026-04-29T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Kinh tế và Phát triểnhttp://103.104.117.215/index.php/jed/article/view/2838Vai trò của lãnh đạo thích ứng trong định hình văn hóa số tại khu vực công thành phố Cần Thơ2026-01-08T15:56:00+07:00Tín Ngô Anhtinna@ntt.edu.vn<p class="b"><span lang="EN-GB">Chuyển đổi số khu vực công thực chất là thách thức thích ứng đòi hỏi thay đổi văn hóa tổ chức hơn là công nghệ. Hiện chưa nhiều nghiên cứu làm sáng tỏ các cơ chế trung gian từ phong cách lãnh đạo đến văn hóa số trong bối cảnh hành chính công tại các quốc gia đang phát triển. Nghiên cứu nhằm nhận diện biểu hiện của lãnh đạo thích ứng và khám phá các cơ chế trung gian cùng quá trình hình thành văn hóa số theo ba tầng, sử dụng phương pháp định tính, phỏng vấn sâu 22 đối tượng tại các cơ quan hành chính thành phố Cần Thơ và phân tích chủ đề. Kết quả chỉ ra ba cơ chế trung gian then chốt: (1) kiến tạo tâm lý an toàn trong thử nghiệm; (2) thúc đẩy động lực số nội tại; và (3) phát huy vai trò phiên dịch chiến lược của quản lý cấp trung. Nghiên cứu đã mở rộng khung lãnh đạo của Heifetz vào bối cảnh chuyển đổi số công, cung cấp hàm ý quản trị cho lãnh đạo địa phương trong việc định hình môi trường văn hóa phù hợp.</span></p>2026-04-29T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Kinh tế và Phát triển